Những ngày tháng 9 lịch sử, không khí ở bản Giàng 2, xã Hương Xuân đang thêm phần rộn ràng. Con đường vào bản được dọn dẹp, cảnh quan được chỉnh trang, cờ Tổ quốc được treo phấp phới trước mỗi mái nhà.

Đại úy Huỳnh Văn Tuấn Vũ - Đội trưởng Đội Vận động quần chúng, Đồn Biên phòng bản Giàng cho biết: “Trước dịp lễ Quốc Khánh, cán bộ, chiến sĩ biên phòng đã cùng bà con dọn dẹp bản làng, chỉnh trang cảnh quan, treo cờ Tổ quốc. Không khí đón Tết Độc lập ở đây khá ấm cúng, phấn khởi. Nhiều gia đình chuẩn bị mâm cỗ, tổ chức gặp mặt, cùng nhau nâng chén rượu mừng ngày Tết Độc lập”.
Trước cổng nhà của chị Hồ Thị Hường, lá cờ đỏ sao vàng đã được treo ngay ngắn. Trong nhà, hình ảnh Bác Hồ được chị gìn giữ trang trọng ở gian chính. Chị Hường chia sẻ: “Với bà con trong bản, đợt lễ Quốc khánh 2/9 là dịp để gia đình sum họp, bà con gặp gỡ, trò chuyện và cùng nhớ về những câu chuyện của bản làng, về Đảng, về Bác Hồ”.

Không chỉ ở nhà chị Hường, điều đặc biệt là ở bản Giàng 2, hình ảnh Bác Hồ hiện diện trong mỗi mái nhà. Theo lời kể của các thế hệ trước được người dân truyền lại, sau khi đất nước giành độc lập, cộng đồng người Chứt ở đây cùng thống nhất lấy họ Hồ, theo tên Bác Hồ. Từ đó, họ Hồ trở thành họ chung của cộng đồng, còn hình ảnh Bác được đặt ở vị trí trang trọng trong mỗi gia đình.
Trưởng bản Hồ Văn Việt (SN 1963) lớn lên từ những câu chuyện như thế. Theo lời cha mẹ ông và người thân kể lại, người Chứt ở bản Giàng 2 có nguồn gốc từ một cộng đồng từng sinh sống ở vùng đất thuộc nước bạn Lào, di cư sang Việt Nam từ nhiều thế hệ trước trong những thời kỳ chiến tranh, loạn lạc.

Ông Việt kể: “Ông bà ngoại của tôi là ông bà Mèo Thây. Trước đây, gia đình cùng nhiều bà con sinh sống tại bản Giàng 1, thuộc xã Hương Lâm cũ. Trong một đợt dịch bệnh nghiêm trọng khiến nhiều người trong bản bị chết, ông bà Mèo Thây quyết định dìu dắt con cháu, người thân tìm đến một vùng đất mới để sinh sống.
Sau khoảng nửa ngày đi bộ, họ đến khu vực bản Giàng 2 ngày nay. Nhận thấy đất đai màu mỡ, thuận lợi hơn cho cuộc sống, ông Mèo quyết định dừng chân. Từ nhóm người ban đầu ấy, cộng đồng dần hình thành và gắn bó với mảnh đất này đến nay. Bởi vậy, người trong bản đều có chung một nguồn gốc, các gia đình có quan hệ họ hàng với nhau.

Câu chuyện về lịch sử bản Giàng 2 cũng gắn với một thời kỳ giao thương khá nhộn nhịp ở vùng biên. Theo lời kể của người dân, trước đây người Việt và người Lào thường xuyên qua lại khu vực này thông qua trạm ngoại thương để trao đổi hàng hóa. Gạo, muối từ Việt Nam được đổi lấy rau rừng, măng, thịt thú rừng và các loại dược liệu từ phía Lào. Người dân hai bên biên giới vì thế có nhiều cơ hội gặp gỡ, giao lưu; một số người trong bản còn kết duyên với người Lào. Những mối quan hệ ấy đến nay vẫn còn được duy trì. Một số người dân bản Giàng 2 vẫn qua lại thăm hỏi, thăm thân với bà con bên kia biên giới.
Ngày nay, bản Giàng 2 có 16 hộ với 57 nhân khẩu. Cuộc sống chủ yếu dựa vào sản xuất lúa nước, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác một số lâm sản phụ như mây, song, lá đọt (loại lá được người dân sử dụng làm nón) cùng chăn nuôi bò, lợn… Sinh kế còn đơn giản, nhưng đã có sự chuyển biến rõ rệt so với cuộc sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên của các thế hệ trước.
Dẫu vậy, bản Giàng 2 vẫn là một trong những địa bàn đặc biệt khó khăn. Bản cách trung tâm xã khoảng 25 km, cách chợ gần nhất khoảng 20 km. Đường vào bản quanh co, nhiều đèo dốc, đi lại khó khăn, nhất là vào những thời điểm thời tiết bất lợi. Sự cách trở địa lý khiến cuộc sống của người dân phần lớn vẫn mang tính tự cung, tự cấp. Hiện bản còn 8 hộ nghèo và 2 hộ cận nghèo.

Đặc thù đó là lý do chính để bản Giàng 2 không thực hiện sắp xếp, sáp nhập trong quá trình tổ chức lại thôn, tổ dân phố. Với quy mô chỉ 16 hộ, bản Giàng 2 hiện là bản có quy mô nhỏ nhất Hà Tĩnh.
Trưởng bản Hồ Văn Việt nói thêm: “Cuộc sống hôm nay dù vẫn còn nhiều khó khăn nhưng đã khác xa những gì cha mẹ, ông bà từng trải qua. Người dân có nhà ở ổn định, có ruộng nước, có đàn gia súc, có con cháu được học hành đầy đủ. Nhiều bạn trẻ đã trưởng thành, thành đạt, là bộ đội, giáo viên, nay đã dựng vợ, gả chồng, sống hòa nhập với người Kinh”.
Trong ngày Tết Độc lập, những câu chuyện cha ông khăn gói đi tìm nơi ở mới giữa núi rừng lại được nhắc lại rôm rả. Đây cũng là dịp thế hệ trẻ hiểu hơn về bản làng, một cộng đồng nhỏ giữa đại ngàn nhưng luôn gắn mình với quê hương, đất nước.
Nguồn tin: Theo Báo Hà Tĩnh: